15 Dec 2016

Dịch thuật và rào cản của bản thể

Tôi lại nghĩ đến nàng

Trong số 4 của AJAR - nước - tôi rất thích một bài thơ của Nguyễn Quí Đức. Language - ông tự viết là Ngôn từ. Tôi không rõ bài thơ nào là “nguyên bản” - hoặc giả đây là hai bài thơ khác nhau được viết từ chung một ý tưởng, từ hai ngôn ngữ khác nhau, thể hiện hai căn tính khác nhau. Nguyễn Quí Đức nói cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, và điều đó thể hiện rõ ràng ở hai bản viết có những mùi vị và tư chất hoàn toàn riêng biệt.

Khi đọc bản tiếng Anh, tôi đã cảm nhận bài thơ một cách rất riêng tư, đặc biệt là khổ sau, tôi bèn dịch. Rồi tôi đọc bản tiếng Việt ông viết, và rồi đột nhiên bài thơ mất đi sự thân quen hay mối liên hệ mà tôi có với bài thơ.


Bản tiếng Anh (NQĐ) Bản dịch (LTN) Bản Tiếng việt (NQĐ)
“I owe you more than apologies,
but no more words. I have talked always
of memory and suffering, given details
of where the skin was torn, the unbelievable,
unhealing scars. And I’ve talked until
I no longer know who you are

I thank you, for times I couldn’t see
that you remember, times I stayed blind.
My eyes still see nothing but what passed
long ago. I wait for some future that can put
my many parts back together.

But raindrops won’t go back into clouds.
Mấy thủa mưa rơi nước ngược về trời.

September was when we last spoke -
but you no longer remember.

When we last spoke, it was of demons
that inhabit the space we exiles
keep out of sight.

The language of exiles
has nowhere to go
but inside.”
“Tôi nợ nàng nhiều hơn là tạ lỗi
nhưng không nợ từ. Tôi đã nói quá nhiều
về kí ức và đau khổ, đã kể về
nơi da thịt rách toang và những vết sẹo
không tin nổi, khôn nguôi. Và tôi đã nói đến lúc
tôi không hình dung ra nàng nữa thì thôi.

Tôi tạ ơn nàng, vì những lúc tôi không thể thấy
rằng nàng ghi nhớ, những lúc tôi mù lòa.
Tròng mắt tôi chẳng thấy gì ngoài những điều đã qua
lâu lắm. Tôi vẫn đợi tương lai nào sẽ
gắn liền lại những mảnh tôi.

Nhưng mấy thủa mưa rơi nước ngược về trời.
Mấy thủa mưa rơi nước ngược về trời.

Tháng chín lần cuối cùng mình trò chuyện
nhưng nàng không nhớ nữa rồi.

Lần cuối cùng trò chuyện, mình nói về những con quỷ
đã chiếm đóng không gian lũ lưu đày chúng ta 
giữ đâu khuất mắt.

Ngôn ngữ của kẻ tha hương
chẳng đi được đến đâu
chỉ ngược vào trong.


“Anh nợ em nhiều hơn những lời tạ lỗi,
nhưng thôi, không nói thêm. Anh đã nói mãi
về kí ức, và khổ đau, mô tả chi tiết
về những nơi da bị rạch nát, và những cái sẹo
khó tin, không lành. Và anh đã nói 
đến khi không còn biết em là ai.

Anh tạ ơn em, về những lần anh không thấy
mà em còn nhớ, những lúc anh cứ mù câm.
Mắt anh không thấy gì ngoài những chuyện
đã qua từ lâu. Anh chờ một ngày mai
biết gom mọi phần tách biệt của anh thành một.

Nước mưa không nhỏ lên mây
Mấy thủa mưa rơi nước ngược về trời

Mình nói chuyện lần cuối vào tháng chín
nhưng em đã quên.

Lần cuối cùng mình nói chuyện
là nói về quỷ dữ sống ở nơi
người lưu vong như mình
giữ kín trong thâm tâm.

Ngôn từ của người lưu vong
không đi đâu được
nên cứ ngược vào trong
Tôi vẫn cho rằng dịch thuật phải là sống ở giữa hai thế giới, nói hai thứ tiếng nghĩa dường như đã là sống hai cuộc đời, mỗi một bên đều có những nền tảng riêng của nó. Ngôn ngữ chưa bao giờ chỉ là sự khác biệt giữa từ, lời, ngữ, nghĩa, nó là hệ thống cảm xúc - nói như Raymond Williams - thứ được quy định bởi lịch sử, xã hội, dịch chuyển, thay thế, sinh sôi, nảy nở, trải nghiệm, văn hóa. Làm thế nào để “dịch” từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia khi những ý nghĩa của ngôn từ được quy định bởi nền tảng đất, nước và con người được gieo trồng tắm tưới trong thổ nhưỡng khác nhau? làm thế nào để “dịch” được những sự tồn tại đã hình thành và giới hạn trong bản thể ngôn từ dùng để đại diện cho sự tồn tại ấy? Bản thân ngôn ngữ nói hay viết cũng đã là một công cụ chuyển dịch ý tưởng từ những hình ảnh, khái niệm, bức tranh trôi nổi trong tiềm thức thành một dạng thức tồn tại với hy vọng có thể truyền tải một cách chính xác nhất những tư duy của bản thân để người khác có thể hé nhìn vào hệ thống tư duy phức tạp của chúng ta. Nhưng nó (ngôn ngữ để người khác hiểu) cũng chỉ là một lỗ hổng trong khung cửa đóng kín nhìn vào một căn phòng sâu và rộng hơn những gì tầm nhìn cho phép - là thế giới nội tâm phức tạp của chúng ta. Chúng ta có thể nhìn thấy, nhưng họa hoằn và hầu như không thể cảm nhận hay trải nghiệm những bão tố hay cầu vồng trong căn phòng ấy. Mọi bức tranh đều bị giới hạn bởi khung hình và những gì vượt ra khỏi nó, chúng ta chỉ có thể mơ hồ ước.

Người thơ viết thơ chính là viết về cuộc đời của họ. Người đọc đọc thơ chính là hy vọng tìm kiếm một sự đồng cảm cho cuộc đời của họ. Tôi nghĩ về những bài thơ tôi yêu thích, và bởi vì tôi là người đọc hãn hữu không có tham vọng rằng tôi sẽ hiểu được hết tất cả sự đẹp của thơ người khác cũng như sự xấu xí của nó, tôi chỉ có thể yêu thích những bài thơ tôi cảm giác rằng tôi hiểu. Nhưng ngay cả suy nghĩ này cũng đã bị thách thức ngược lại lúc này, khi tôi đọc bài thơ tiếng anh của NQĐ đã khiến tôi ngừng thở, và đọc bản tiếng Việt lại chẳng khiến tôi động tâm. Tôi thoáng có chút lo ngại cho cái lý do dễ dãi mà người như tôi thường hay nghĩ đến: mất gốc. Rằng tôi lại đi yêu thích thứ ngôn ngữ không phải của mình hơn là tiếng mẹ đẻ. Rằng tôi “sính ngoại” và coi thường “văn hóa Việt.” Nhưng lối suy nghĩ này sẽ giải thích sao khi bản thân người viết - NQĐ trong trường hợp này - đã viết bằng cả hai thứ tiếng và cả hai thứ tiếng đều là ngôn ngữ - đều mang tính đại diện cho căn tính của tác giả? Và tôi, tại sao tôi lại thích văn bản tiếng Anh hơn văn bản tiếng Việt, trong trường hợp này? Trong thư gửi bạn đọc, Nhã Thuyên đặt câu hỏi tương tự:
“Liệu tôi có thể viết trong một ngôn ngữ khác và nói rằng ‘tôi là người Việt,’ mà không quá ám ảnh về việc không viết bằng tiếng mẹ tôi, về việc phản bội tiếng tôi và làm người ngoài trong một ngôn ngữ khác? Liệu tôi có thể nói yêu người mà không lo lắng quá về việc phát âm sai tên người? Liệu tôi có thể viết trong tiếng của người và liệu người có thể rộng lòng đón nhận tình yêu giới hạn của tôi với tiếng của người?”
Câu hỏi này đưa tôi quay lại với suy tưởng rằng ngôn ngữ là công cụ chuyển dịch ý nghĩa của trải nghiệm cá nhân trong một xã hội đã đặt ra quy chuẩn đại diện. Những người viết bởi đã bị giới hạn bởi những quy chuẩn ấy (từ vựng, ngữ pháp, ý nghĩa xã hội được đồng thuận trên diện rộng) nên muốn vượt lên và xé rách những rào cản ấy, muốn được hòa làm một với người đọc, muốn người đọc có thể nhập thân và trải nghiệm, bơi trong dung môi và cùng kết tủa như một thứ phương trình hóa học nếu đúng quy trình thì trăm lần như một - một thứ “trải nghiệm khách quan” về thế giới chủ quan, nếu phải dùng đến ngôn ngữ khoa học. Ít nhất, đó đã là mong muốn tột bậc của tôi mỗi một lần đối thoại - qua lời nói hàng ngày, qua bài viết, qua tiểu luận, qua chữ nghĩa, qua thơ. Và cái rào cản giữa người với người, ngay cả khi họ “cận kề và mơn trớn” sát bên ta, như Xuân Diệu từng than, vẫn luôn là “hai vũ trụ chứa đầy bí mật.” Khi “ngôn ngữ” và “văn hóa” không phải là rào cản, sự thông hiểu tận cùng vẫn là bất khả. Người tình với người tình, cha mẹ với con cái, người lạ với người lạ, sự thật vẫn là chúng ta vẫn đang nhìn nhau “qua những khung cửa kính dày, không thể nghe nhau không thể nói” (Lưu Quang Vũ). Như vậy, một thứ tiếng khác, nếu có, cũng chỉ là một “lớp kính” dày đặc khác, và nếu cố gắng hà hơi chùi rửa, chúng ta vẫn là những người-nhìn, người-nghe, người-đọc, người-xem, và cố gắng hiểu - cố gắng hiểu. Hiểu theo cách tốt nhất mà ta có thể - hiểu bằng mọi phân tử, kí ức, cảm nhận, nội tại, tiềm thức, tri thức của bản thân ta - nói cách khác, hiểu trong phạm vi cuộc sống của ta. Tôi chỉ có thể hiểu người trong phạm vi những gì tôi sống, không thể gần hơn, không thể xa hơn.

Và bởi vậy, khi tôi đọc bản tiếng Anh của NQĐ, nó cho phép tôi được hiểu một cách gần gũi, một cách thân quen - tôi nhìn thấy những trải nghiệm đau đớn của tôi về nàng của tôi, người con gái đã lắng nghe những câu chuyện của tôi với hy vọng rằng nàng sẽ hiểu và bởi vì tôi đã nói quá nhiều tôi đánh mất cảm quan về nàng là một thực thể ở cạnh tôi - nàng trở thành một người nghe thụ động, một người đã nhớ và đã hiểu những câu chuyện tôi kể theo một cách tôi không thể biết. Nàng đọc tôi qua những ngôn từ tôi truyền tải, và tôi uất ức bởi nàng đã không hiểu tôi như cái cách tôi , mà chỉ có thể hiểu tôi qua những gì nàng trải nghiệm. Tôi đã không nhìn nàng như nàng ở đây, trong hiện tại, cạnh bên tôi mà nàng là một gương mặt như rất nhiều gương mặt đã đi qua đời tôi trong quá khứ, và bởi vậy tôi xếp nàng vào một quá trình dịch chuyển, giới hạn vị trí cho nàng như một kẻ sẽ luôn tiềm năng là kẻ bên lề, như những kẻ đã không còn đó. Và tôi bởi đã luôn là những mảnh vỡ vẫn chưa gắn liền kể cho nàng về những mảnh vỡ tôi hiện đang là, để nói về một tương lai tôi trở nên vẹn toàn - tương lai này mặc định không có nàng trong đó. Xin lỗi, tôi đã nói quá nhiều nên từ ngữ tôi không nợ, và bởi vì tôi đã luôn cho rằng mọi kết thúc đều giống nhau đều đổ vỡ, tôi đã loại trừ nàng khỏi tương lai toàn vẹn của tôi. Một cách tình cờ, lần cuối cùng tôi nói chuyện với nàng của tôi, với tư cách là hai người của nhau cũng là vào tháng chín, và bởi vậy câu thơ của NQĐ đã rúng động tâm can tôi. Tôi đã cố diễn tả cho nàng nghe về cuộc sống khác ở không gian khác, thứ dung môi tôi bơi với những đọa đầy của nó, thứ cảm giác nàng dù muốn cũng không thể hiểu nhưng tôi thực lòng mong nàng hiểu đến vậy nhưng không thể. Ngôn ngữ của kẻ tha hương - chẳng đi được đến đâu - chỉ ngược vào trong.

Bởi vì tiếng Anh đã trở thành một loại ngôn ngữ đại diện cho một con người khác, một cuộc sống khác, một loại tồn tại khác, hình thành nên từ những năm tôi sống ở xứ người, nên tôi đọc bài thơ và cảm giác rằng tôi có thể vay mượn thậm chí chiếm hữu những câu thơ này để nói về câu chuyện của tôi. Nhưng mọi bài thơ đều đến từ cuộc sống thật, và cái ảo tưởng mong manh về đồng cảm đã bị phá bỏ khi NQĐ viết bài thơ bằng tiếng việt, và rõ ràng đó là câu chuyện của NQĐ - người Huế lưu vong nói với người nữ của ông: những rạch nát da thịt và vết sẹo không lành không phải là ẩn dụ, sự lưu vong là bởi bắt buộc phải ra đi chứ không phải là lựa chọn, mất mát là mất nước, mất nhà, mất quê hương, hồi ức là những thứ bị tước bỏ - câu chuyện này là của NQĐ và tôi quay trở lại làm vai trò người-đọc, không thể hiểu và không có tư cách vay mượn bởi vì tôi là đứa con Cộng sản miền Bắc có gia đình tham gia cách mạng và thổ nhưỡng đã tưới tắm tôi là thứ đã đày ải NQĐ - một rào cản khác đã được nâng lên - rào cản thật, đường biên giới thật, đại dương đã nuốt lấy tàu của thuyền nhân thật, trại cải tạo thật, bạo lực thật, trại tị nạn thật: tôi chỉ có thể đứng ngoài khung cửa kín hé mắt nhìn vào lỗ hổng bên trong một căn phòng sâu và rộng hơn những gì tầm nhìn cho phép - là thế giới (nội tâm) phức tạp của ông.

Tôi thử đọc to ba khổ thơ - bản tiếng Anh - bản dịch tiếng Việt giọng miền Bắc - bản tiếng Việt giọng Huế (ba mẹ tôi là người miền Trung bởi vậy tôi có thể bắt chước phần nào giọng Huế), và dường như ba thế giới được dựng lên. Ba đoạn thơ, thứ đáng lẽ ra phải là một, lại là ba thế giới khác nhau - tôi lại là người đọc, người nghe, người nhìn, không phải là người sống hay người viết. Nhưng bởi vì tôi tha thiết muốn là một phần của thế giới đó, nên tôi đã chọn dịch, để có thể thông qua đó, tiết lộ bản thân tôi. Bản dịch không bao giờ chỉ là để truyền tải “ý nghĩa” của bản gốc - đơn giản chỉ bởi vì không thể - bản dịch, cũng như mọi loại ngôn từ khác, luôn luôn là nỗ lực, tiềm thức hay chủ động, của người-dịch-viết nhằm phá vỡ những tầng rào cản khác nhau giữa người-dịch và người-viết và người-đọc được hướng đến và người-đọc tình cờ và thế giới vật chất và cách mà mỗi một người trong chúng ta từ những vị thế khác nhau đã trải nghiệm thế giới ấy.

Và tôi cũng sẽ không bao giờ biết được thực lòng những người-đọc khác sẽ nghĩ gì.

LTN.

13 Dec 2016

I Was not Supposed to Remember - Cherríe Moraga, The Last Generation (1993).

Tôi đáng lẽ không nên nhớ 
mùi cây phong lữ
thứ hương thấm nhuần qua lỗ mũi không dậy lên
từ lọ nước hoa ‘và cổ tay của mẹ ‘và chỉ một chấm nhẹ
đằng sau tai tôi đáng lẽ không nên nhớ tai của bà
như tôi, phần thùy tai thực ra mỏng choẹt
nốt ruồi đã đánh dấu mẹ
của tôi 
Tôi đáng lẽ không nên nhớ mình là gái
đứa con của một người bản địa nọ một người nọ một nơi nào đó
một đứa con côi một nơi nào đó của một ai đó
giống lai bị bỏ hoang tôi đáng lẽ
không nên nhớ vụ cưỡng dâm nguyên thủy. 
Tôi đáng lẽ không nên nhớ
người cha da trắng và tiếng khóc đứa con
người cha da trắng của tôi cũng mồ côi
Tôi đã không được thấy bản thể tôi phản chiếu lại
trong ánh kim loại lạnh sợ hãi run rẩy
tôi đã không định
cưới người đàn ông ấy 
.....

Tôi là người nữ, không con
và tôi đi kể những câu chuyện của tôi cho những người
đàn bà không con khác và rồi thể nào
các thế hệ sẽ sinh sôi và thịnh vượng
và nhớ đến những tiền-kí ức 
nhớ những vườn hồng gai sắc những ngón tay đào
sâu xuống đất miền nam california phì nhiêu hôn lên
góc cạnh của những đầu đen bốc hơi 
còn cái để mà nhớ
về những ngày tháng ấy
còn cái bỏ lại
trong bụi đất Tại vì sao tôi lại nhớ
bụi đất khi tôi lớn lên với nhựa đường?
Tại vì sao bụi đất lại quan trọng đến vậy đối với tôi?
Có còn gì để nhớ về trong một cái cây?
 

một cái cây
toàn thể cây 
Tôi, toàn thể lai giống
tạp chủng/ mễ yaqui/ đứa con gái oakie (*) lang thang
“yaquioakie” cầm nắm cả thế giới
tôi biết bởi nó định hình dáng môi của bà tôi
khi gọi người anh-ruột của tôi
người anh em thuần chủng,
mái tóc anh điêng sợi len màu cát
cúi xuống bát súp thịt viên 
..... 
Tạp chủng là cái tên
đã cầm nắm tất cả con thú vật là tôi.
Dạng hai chân
trên bàn kiểm y nàng nọ nói với tôi
xơ tử cung của chị không to như quả dưa hấu
chỉ to bằng quả cam nhỏ thôi

và tôi coi khối thiên thể tác động
đang lớn từ từ đằng sau rốn
những vệ tinh nhỏ của những u xơ nhỏ
trôi nổi bên trong quỹ đạo đầy acid citric của nó 
Tôi tưởng tượng sắc màu/ vị hoa quả/ sự đắng
của vỏ và hoan mê có một sự thân thuộc hoan mê
khi nàng di chuyển bàn tay đeo găng tay cao su màu tối
vào sâu bên trong tôi cử chỉ của một đồng tính nữ
Tôi, một con quái vật đồng tính nữ
Nàng khuyên tôi nên dùng hormone
lúc nào chị cũng nhiều lông thế này ư
phải, tôi nói, tôi nhớ từ lúc bắt đầu trở thành đàn bà
nhiều lông rất nhiều điều đó có khiến tôi đàn bà
hay một người đồng tính nữ
hay một con thú? 
điều này làm tôi lại nghĩ về tạp chủng
và con lai cừu-dê tôi từng thấy
một lần trong tạp chí
với đôi mắt đau thương nài nỉ
cố gắng bứt khỏi
gương mặt biển đổi gien của nó 
và tôi nhìn thấy gương mặt mình trong đó
bất kể tôi được yêu ra sao
bất kể tôi đàn bà ra sao bao nhiêu đàn bà
ôm và mút tôi
tôi vẫn phản chiếu trong đôi tròng mắt
đáng thương
cô độc
sản phẩm đột biến
ấy.
Chú thích:
(*) oakie: từ để chỉ cấp bậc gần cuối của người da trắng nghèo hay thu thập và lưu giữ đồ vật nhỏ lẻ hay người lang thang phải bỏ đất mà đi kiếm việc (ở Oklahoma và Texas) thời Khủng hoảng kinh tế Mỹ.

2 Nov 2016

why you love her and what to do - Yrsa Daley-Ward, Bone.

Tại sao em yêu nàng và những việc nên làm

By KaetheButcherIllustrations


I.
Bởi vì nàng, như em, được nuôi lớn từ mặt
ráp của lời nói dối và khi người
nữ to lớn ấy gấp toàn bộ bản thân vào trong em
bé xíu, em muốn giữ chặt lấy nàng mãi mãi
- an toàn khỏi mọi điều đã và sẽ xảy ra.
Em muốn mang nàng đi khỏi
tất cả những thứ đã từng hoặc là vẫn có thể làm nàng đau
bởi không ai trong hai người biết
giọng nói của cha mình.
Em biết tên và họ và
những thông tin nho nhỏ như là quê
của cha nàng và rằng cha em có đôi mắt chó con
đã cắt xuyên qua thói ương ngạnh của
mẹ em
nhưng còn sắc đen trên làn da ông hay cái cách
đôi bàn tay em trong tay ông… em chỉ có thể mơ hồ đoán
bởi vì em đùa rằng có khi nào hai người cha là một… điều này giải thích rất
nhiều và cũng khiến hai người phạm pháp,
nhưng những tình yêu tuyệt vời nhất đã xảy ra
khi em biết quá khứ của nàng trước khi nàng kể - chúng cũng là tất cả mọi
lỗi lầm của em, xảy ra ở một ngôi làng khác tròn mười sáu tuổi với những thằng đàn ông chín
vài thằng đã có những người vợ chín
bởi vì cơ thể luôn phản bội
cái tâm can trẻ nhỏ - khiến em có cái mùi
em không nên có, gán cho em cái hương
em chưa đủ tuổi để mang theo
làm những việc đàn bà mà em thậm chí
còn không đủ lớn để đón nhận sức nặng của một thằng đàn ông,
một cơn vỡ tim, hay một đứa con. Đây là lý do tại sao em yêu nàng.
II
Nên em phải ôm lấy nàng bằng đủ chiều dài của hai cánh tay
Nói rằng đã có quá nhiều thứ của nàng
bên trong em mất rồi. Cảm giác như em không thể chịu đựng
được nữa. Nói với nàng không, thôi ngưng lại đi,
đau lắm.
Biết rằng nàng làm em sợ và em đã
quá quen với lối sống như là con sói cô đơn than khóc
với trăng non và sửng sốt trước
sự dịch chuyển của nó ở mọi vùng đất mới.
Cho nàng biết sự nhẹ nhõm khi bỏ lại
mọi thứ phía sau. Nói với nàng đấy là một nỗi đau em đã
lớn lên cùng. Nói với nàng em sẽ trở lại.
Thăm nàng. Một cách thật lòng.
Nói với nàng yêu người khác sẽ tốt hơn.
Kiểu người dừng chân ở một nơi
và kiến thiết và biết cách ở yên một chỗ.
Biết rằng thói bảo mẫu của nàng không phải
là thứ để chịu đựng. Bảo nàng rằng em
đã thôi không trông chờ vào điều này từ hồi lên sáu.
Trông nàng hạnh phúc trong thì tương lai với
một người tốt hơn em. Quặn hết ruột gan
khi nhận ra, nhưng phải biết.

Đây là một trong những bài thơ mình cảm thấy rất tinh tế trong việc kể lại những vấn đề người nữ gặp phải trong một số địa phận ở châu Phi mà không mô tả châu Phi như là nơi rừng rú mọi rợ bóc lột đàn bà trẻ nhỏ một cách toàn thể. Cả cái khuôn mẫu "gia đình tan vỡ" bị gán như một vấn nạn của người gốc Phi với những người cha vắng mặt và những người mẹ đơn thân được nhắc đến chỉ bằng một hình ảnh, "không biết được sắc nâu trên làn da ông" và "chỉ có thể mơ hồ đoán" cảm giác của việc được cha nắm tay.

Khi nỗi ám ảnh với người cha như một dạng bệnh lý cổ điển vẫn được dùng để lý giải tại sao những người nữ dị tính hay lao vào những mối quan hệ độc hại, thì ở đây Yrsa viết về sự thiếu hụt, thậm chí tàn nhẫn của những người đàn ông như là điều kiện của tình nữ, một thứ tình theo Yrsa xuất phát từ mong muốn được che chở, bảo vệ, bù đắp, tương giao, sửng sốt, cô quạnh, và cuối cùng ra đi. Không phải là mối tình của người nữ thì không vững chãi, nhưng sự lành mạnh của thứ tình cảm vốn được coi là hệ quả của chấn thương tâm lý, sự e sợ đàn ông, thiếu vắng tình thương, không có tuổi thơ... trong rất nhiều những diễn ngôn về tình nữ lại nằm ở chỗ họ dám để nhau đi. Nó lành mạnh bởi vì nó chứng minh cho sự tồn tại của người nữ như những cá thể độc lập khỏi nhau và khỏi những vấn đề xã hội chung cả hai gặp phải. Khi "lý do em yêu nàng" đến từ việc cả hai cùng không biết mặt cha và đã trải qua ấu hôn từ nơi họ đến, thì "những điều cần làm" chính là "nói nàng yêu người khác sẽ tốt hơn."

Sự từ bỏ này không phải là về tâm tư mà là về bản thể, bởi Yrsa mô tả nỗi ám ảnh chưa được chữa lành của bạo hành và ngược đãi trẻ nhỏ cũng như những dư chấn của nó mà không cần phải dùng đến thứ ngôn ngữ khoa học được phát minh ra để mô tả trạng thái như vậy (mười sáu tuổi ở ngôi làng nọ những người đàn ông chín, cơ thể luôn phản bội tâm can trẻ nhỏ, lớn lên bằng kí ức của việc bị bỏ lại, dừng việc trông chờ ở người mẹ từ hồi lên sáu). Những dư chấn ấy kéo dài thành những vấn đề trong mối quan hệ của hai người sống sót theo một cách tinh xảo, lén lút, tiềm thức: nàng làm sống lại những kí ức đau đớn, sự tồn tại của nàng gợi nhắc đến những ám ảnh cũ, thói bảo mẫu của nàng thật nghẹt thở, em phải ra đi vì nếu không ra đi một mình thì em sẽ luôn là người bị bỏ lại.

Mình đọc bài thơ này như một dạng lời khai làm chứng lẫn phê bình cho những vấn đề tồn tại nhiều xã hội hơn ta tưởng. Khi xã hội phụ hệ và sự tàn bạo của gia đình hạt nhân đã làm tổn thương những đứa con gái theo cái cách nó không làm với con trai, thì những người nữ trưởng thành gặp nhau sẽ phải đối diện với những bóng ma nào? Tình ái là chính trị - nó thể hiện những bạo lực xã hội ở những khía cạnh gần gụi, riêng tư nhất; nó tàn phá cơ thể và tâm can con người vào những giờ khắc mong manh nhất, khi con người này nhận ra tình yêu của họ xuất phát từ những hư hại và đổ nát. Tôi đọc lại lúc vừa trải qua một trận can qua tương tự cho nên bài thơ rất thấm. Tell her she's better with somebody else... Feel sick when you feel it, but know it.

Artichoke - poem by Yrsa Daley-Ward, in Bone.

Source


Hôm nay giới thiệu bài Artichoke của người thơ nữ dị giới gốc Phi Yrsa Daley-Ward. Thơ nàng cũng mang âm hưởng như những người thơ nữ gốc Phi như nayyirah waheed hay Warsan Shire, viết nhiều về sắc tộc, giới, chiến tranh trên mảnh đất châu Phi và cơ thể đàn bà, tội ác chiến tranh và tình dục, nhưng mình thích thơ Yrsa hơn cả vì thơ nàng có một tình yêu đối với người nữ rất thuần khiết, rất đau thương, thứ mà theo cảm quan của mình những nhà thơ dị tính dù là nữ cũng không thể hiện được. Khi những bài thơ tình nổi tiếng nhất của Shire sử dụng những phép ẩn dụ lỗi thời của cơ thể người mẹ và sự lãnh đạm của người cha hay sự ghét bỏ đàn bà của những thằng đàn ông có những người cha bạo lực để nói về mối quan hệ đổ vỡ ("34 lý do chúng ta thất bại trong tình ái") thì cái chia phôi của Daley-Ward, như trong bài thơ mình dịch này, vừa tinh tế, vừa bình lặng, lại vừa bão tố. Mình cứ đọc đến câu, "and love, love is mostly ill-advised but always brave" lại buồn xoắn cả người. Đi qua các mối tình khiến đứa trẻ - thơ pseudopoet trong mình cũng nhôn nhao trở lại, nhưng thân phận tài hèn sức mọn không thể làm nghệ thuật đành đi dịch và bình luận vậy. Mời các bạn cùng đọc:


A ti sô
Ly dịch cho Lolly

Chừng nào mình chưa phải là đôi cuối cùng
ngồi lại trong góc quán cà phê và
nàng đã hôn giọt rum sẫm màu từ
vành cốc của mình và dạy mình
cách ăn bông a ti sô
chừng đó
mình vẫn chưa thành người nữ.
Chừng nào mình chưa bưng lá mềm lên môi
chạm lưỡi vào thịt lá,
nhấm búp non,
nuốt thứ nước cốt
nàng nói sẽ thanh tẩy mình
chừng nào mình chưa tách nó ra, thở dài trước sắc màu của nó,
nhìn tận nhụy tâm và học được việc
những ngón tay làm thuần thục nhất
chừng nào mình chưa rướn sâu nữa
vào trong cái nhụy dày, nóng ấy
cuộc sống vẫn chưa bắt đầu
Trước khi mình được hứa hẹn.
Trước khi nàng dối lừa.
Trước khi mình bị tháo rời, sửa chữa, và
đập tan lần nữa mình vẫn chưa phải người tình.
Hãy nhớ rằng vào đúng đêm và dưới đúng ánh đèn
ý tưởng nào nghe cũng hay ho cả
và tình ái
tình ái chẳng ai bày cho nhưng lúc nào cũng can trường.
Điều quan trọng nhất cần làm là đừng lo lắng. Những nếp gấp trên gương mặt mình sẽ chẳng bao giờ ngăn cản mặt trời không mọc. Nước mắt mình rơi không thay đổi thời tiết. Những cuộc chiến tranh đang diễn ra. Cuộc chiến trong cơ thể mình là món duy nhất mình chắc thua hay thắng, rồi để thua sau.
Mình uống nhiều nước hơn rum những ngày gần đây, có phải?
Nhưng mình uống cho kí ức về nàng, có phải?
Và mình ăn salad chỉ ăn a ti sô thôi.
Không bao giờ ăn cả.
Không ở một quán cà phê trên con đường đầy bụi lúc nửa đêm.
Không phải với nàng.
Không bao giờ với nàng, hoặc bất kì ai như nàng. 







31 Oct 2016

the tragedy of the leaves - Charles Bukowski

Bi kịch của những cái lá
Tôi thức dậy trong khô cằn và những cây dương xỉ đã chết
cây trong chậu vàng như ngô
người đàn bà của tôi đi mất
và những cái chai trống rỗng như xác chết khô
bủa vây tôi trong sự vô dụng của chúng
vẫn còn mặt trời dùng được
và mẩu giấy nhắn của bà chủ nhà rạn nứt trong
màu vàng tinh tế không đòi hỏi; cái cần bây giờ là
một nghệ sĩ hài tử tế, phong cách cổ hủ, gã hề
với những câu đùa về đau thương vô lối; đau thương luôn vô lối
chỉ vì chúng tồn tại, thế thôi;
Tôi cẩn thận cạo râu bằng lưỡi dao lam đã cũ
thằng đàn ông đã từng trẻ tuổi và
người ta nói hắn là thiên tài; nhưng
đó chính là bi kịch của những cái lá,
cây dương xỉ chết, những cành cây chết;
và tôi bước vào hành lang tối
nơi bà chủ nhà đứng
nguyền rủa và cuối cùng,
đuổi tôi xuống địa ngục,
vung vẩy hai cánh tay béo nhễ nhợt mồ hôi
và gào thét
gào thét đòi tiền thuê nhà
bởi vì thế giới này đã thất bại
với cả hai
chúng tôi.

24 Oct 2016

Nơi tôi chưa từng qua, hơn tất thảy

SOMEWHERE I HAVE NEVER TRAVELLED, GLADLY BEYOND 
by e.e. cumming dịch bởi Ly
Nơi tôi chưa từng qua, hơn tất thảy

Nơi tôi chưa từng qua, hơn tất thảy, đôi mắt nàng có những lặng thinh:
trong vóc mảnh của nàng là những điều bủa vây tôi,
hay thứ tôi không chạm nắm được bởi chúng quá gần
cái nhìn khẽ của nàng dễ dàng cởi bỏ tôi
dù tôi xiết bản thân chặt như những ngón tay,
nàng bóc tách tôi từng cánh một như Xuân mở
toang đoá hoa hồng đầu tiên (khéo chạm, đầy bí ẩn)
hoặc giả như nàng muốn đóng tôi lại, tôi và
cuộc sống của tôi sẽ khép lại một cách đẹp xinh, đột ngột,
như khi trái tim của đoá hoa này tưởng tượng ra những bông tuyết đang rủ xuống ở mọi nơi;
không gì ta thấy được trên thế giới này
sánh được
sự mong manh nhức nhối của nàng: những đường vân của nó kéo tôi vào màu sắc của những quốc gia, kiến tạo cái chết và những điều vĩnh cửu qua từng hơi thở
(tôi không biết trong nàng cái gì đã đóng và mở; duy chỉ có một phần trong tôi hiểu được giọng nói từ ánh mắt nàng sâu hơn tất cả hoa hồng)
chẳng có ai, ngay cả cơn mưa, có đôi bàn tay nhỏ xinh như thế

23 Oct 2016

Before the Law, truyện ngắn của Kafka

Trước Luật

                    Trước Luật có một người giữ cửa. Trước người giữ cửa có một người đàn ông quê mùa đứng cầu xin được vào nhận Luật. Nhưng người giữ cửa nói hắn không thể tiếp nhận người lúc này. Người đàn ông nghĩ một lúc rồi hỏi liệu có thể đợi được không. "Có thể chứ," người giữ cửa nói. "Nhưng không phải bây giờ." Bởi vì cổng vào mở toang, như thường lệ, và người giữ cửa đứng nép vào một bên, người đàn ông liền nhón chân để nhìn qua cửa vào phía trong. Thấy vậy, người giữ cửa cười và nói: "Nếu nhà anh cần kíp đến vậy, cứ thử đi vào bất chấp ta xem. Nhưng phải nhớ: ta rất mạnh. Và ta mới chỉ là hạng binh bét trong những người giữ cửa. Dọc các đại sảnh liên tục đều có các người giữ cửa, người nọ đều quyền lực hơn người phía trước. Người giữ cửa thứ ba đã khủng khiếp lắm rồi đến ta còn chẳng dám nhìn." Những khó khăn này người đàn ông nhà quê chưa từng nghĩ đến; Luật Pháp, anh nghĩ, hẳn lúc nào và ở đâu cũng phải dễ tiếp cận với bất kì ai, nhưng lúc này đây khi anh nhìn kĩ người giữ cửa mặc áo choàng lông, với cái mũi to nhọn hoắt và hàm râu quai nón đen mỏng và dài, anh quyết định tốt nhất là đợi đến khi nào hắn cho vào thì mới dám vào. Người giữ cửa cho anh mượn một cái ghế đẩu mà ngồi khép vào một bên cửa. Ở đó anh ngồi ngày này sang năm khác. Anh cố rất nhiều lần để được vào, khiến người giữ cửa phát chán vì những câu hỏi. Người giữ cửa thường có những cuộc phỏng vấn nhỏ, hỏi anh về quê nhà và rất nhiều những điều lặt vặt khác, nhưng những câu hỏi này rất hờ hững, như là cách các lãnh chúa hay nói, và lúc nào cũng kết luận lại bằng câu không, anh chưa được vào. Người đàn ông, khi đi mang theo rất nhiều cho chuyến hành trình, đã hy sinh tất cả những gì anh có, bất kể giá trị, để mua chuộc người giữ cửa. Người giữ cửa cái gì cũng nhận, nhưng lúc nào cũng kèm theo câu nói: "Ta chỉ nhận của nhà anh để nhà anh đảm bảo là nhà anh không bỏ sót cái gì thôi." Suốt nhiều năm người đàn ông chỉ chăm chăm vào người giữ cửa. Anh quên đi những người giữ cửa khác, và người đầu tiên này dường như là trở ngại duy nhất ngăn anh tiếp cận đến Luật. Anh nguyền rủa sự kém may mắn của mình, những năm đầu thì hào hùng và lớn tiếng; sau này, khi đã già đi, ông chỉ lèm bèm cho mình nghe. Ông trở nên như trẻ con, và bởi vì trong suốt những năm tháng chú tâm vào người giữ cửa ông còn biết cả đến bọn rận rệp trú trong cổ áo choàng lông của hắn, ông thậm chí cầu xin bọn rận nói giúp ông để người giữ cửa đổi ý. Rồi thì mắt ông bắt đầu kém, và ông không rõ là liệu thế giới đang tối tăm đi hay là mắt ông đang lừa dối. Vậy mà trong bóng tối ông lại cảm nhận rất rõ ánh sáng chói lọi phát ra từ cánh cổng của Luật. Giờ thì ông không còn sống được bao lâu. Trước khi chết, mọi trải nghiệm suốt bao nhiêu năm của ông tập hợp lại trong đầu thành một điều này, một câu hỏi mà ông chưa hỏi người giữ cửa. Ông vẫy hắn lại gần, vì ông không cựa cái thân cứng ngắc của mình được nữa. Người giữ cửa phải cúi thấp xuống về phía ông, sự khác biệt về chiều cao đã thay đổi quá nhiều. "Giờ thì nhà anh muốn biết gì nữa?" Người giữ cửa hỏi; "thật không thể chiều được nhà anh." "Ai cũng cố để tiếp cận Luật," người đàn ông nói, "thế thì tại làm sao trong suốt bấy nhiêu năm chẳng có ai ngoài tôi đến xin được tiếp nhận?" Người giữ cửa nhận ra người đàn ông đã đến tận cùng, và, để cho những giác quan đang chết mòn của ông có thể tiếp nhận cho rõ ràng, hắn gào vào tai ông: "Chẳng có ai khác có thể được tiếp nhận ở đây, vì cái cổng này được tạo ra cho riêng ngươi thôi. Giờ ta đóng lại đây."

Dịch từ bản tiếng Anh, "Before the Law" của Willa và Edwin Muir sang tiếng Việt bởi Ly.

23 Mar 2016

scorpio


water color on paper, glued-in petals and leaves.

27 Dec 2015

Mayakovsky


Tác giả: Frank O’Hara
Dịch bởi L



1

Trái tim con đập thình thình!
đứng trong bồn tắm
mà rơi lệ. Mẹ ơi, mẹ ơi
con là ai? Nếu anh ấy
chỉ cần quay trở lại một lần thôi
và hôn lên mặt con
mái tóc bù tung khẽ chạm
thái dương con, thì nó sẽ vỡ tung lên mất!


Thế rồi con có thể mặc áo quần vào

chắc thế, rồi bước ra đường.


2

Ta yêu người. Ta yêu người
nhưng ta quay lại với những vần thơ đang viết dở
và trái tim thì khép lại
như nắm đấm


Những ngôn từ! hãy

tật nguyền như ta tật nguyền, bất tỉnh,
trợn ngược mắt lên, cái hồ bơi


rồi ta sẽ nhìn xuống

vào vẻ đẹp xước xát của bản thân
thứ mà cùng lắm cũng chỉ là chút tài
thơ thẩn.


Không thể thỏa mãn, không thể thu hút hay chiến thắng

cái loại nhà thơ!
và nước trong thì sóng sánh


đầy máu thổi loang trên đầu

Ta ôm lấy một vầng mây
nhưng khi đã giang cánh
cơn mưa đã đổ.


3.

Buồn cười chưa! có máu trên lồng ngực
phải rồi, tôi vẫn đang ôm đống gạch
lại đoạn tuyệt nhau ở nơi này ư!
và giời thì đổ mưa trên ngọn cây thanh thất
khi tôi bước lên bậu cửa sổ to
những con đường bên dưới màu khói đun và
long lanh một niềm đam mê chạy trốn
Tôi bước vào cây lá, xanh mướt như đại dương


4.

Giờ thì mình nằm yên lặng đợi cho
cái tai ương của nhân tính bản thân
trở nên đẹp xinh lần nữa,
và thi thú, và tân thời.


Làng quê thì xám và

nâu và trắng ở trên cây,
những bông tuyết và những bầu trời cười khanh khách
luôn đổ sụp, luôn nhạt nhẽo
không chỉ tối sầm, không chỉ xám đen


Đó chắc có thể là ngày lạnh nhất

của năm, anh ất sẽ nghĩ gì về
điều đó? Cả mình nữa, mình thì sao? Và nếu mình nghĩ ra,
nhất định là bản thân lần nữa